3% này. Lạm phát giá dịch vụ vẫn tăng cao và chỉ giảm rất chậm. Nếu lạm phát lõi vẫn không thay đổi so với mức tăng hiện hành, lạm phát giá dịch vụ tổng thể hằng năm cần được kéo giảm 3% tại Mexico; 2,5% tại Anh; 1,2% tại khu vực đồng Euro; và 0,8% tại Mỹ để kéo giảm lạm phát giá dịch vụ tổng thể về tỷ lệ lạm phát phù hợp với mục tiêu đề ra.
Trên toàn cầu, điều kiện tài chính vẫn hạn chế nhưng đang tiếp tục nới lỏng, và thị trường kỳ vọng tiến trình cắt giảm lãi suất chính sách sẽ nhanh hơn so với kỳ vọng trước đây. Tại Mỹ, khu vực đồng Euro, Anh, Brazil và một số nước mới nổi khác, lãi suất thực kỳ hạn dài vẫn tương đối cao hơn so với thập kỷ trước. Tuy nhiên, lợi suất danh nghĩa đối với trái phiếu kỳ hạn dài đang giảm dần và lượng trái phiếu do các doanh nghiệp phát hành tăng cao nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn trong bối cảnh chênh lệch lãi suất giảm.
Triển vọng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế toàn cầu được dự báo sẽ ổn định với mức tăng 3,2% trong năm 2024-2025 và lạm phát tiếp tục giảm. Tại AEs, tác động trễ của chính sách tiền tệ thắt chặt bắt đầu giảm, và các động thái nới lỏng tiền tệ tiếp theo sẽ thúc đẩy chi tiêu trong năm 2025 đối với các mặt hàng nhạy cảm với lãi suất. Tại nhiều quốc gia, lạm phát giảm cũng sẽ tiếp tục hỗ trợ tăng thu nhập thực tế và mở rộng tiêu dùng tư nhân.
Tại Mỹ và Canada, GDP trong những quý tới đây sẽ tăng chậm hơn so với kết quả tăng trong 6 tháng đầu năm 2024. Tuy nhiên, các động thái nới lỏng tiền tệ có thể sẽ thúc đẩy tăng trưởng cao cho đến cuối năm 2025. GDP tại Mỹ sẽ tăng 2,6% trong năm 2024 và tăng 1,6% trong năm 2025; con số này là 1,1% và 1,8% tại Canada. Châu Âu cũng sẽ hưởng lợi từ chu kỳ hạ lãi suất và phục hồi thu nhập thực tế, với GDP tại khu vực đồng Euro sẽ tăng 0,7% trong năm 2024 và 1,3% trong năm 2025; GDP tại Anh sẽ tăng 1,1% trong năm 2024 và 1,2% trong năm 2025; GDP tại Nhật Bản sẽ tăng 0,1% trong năm 2024 và 1,4% trong năm 2025. Tại Hàn Quốc, GDP sẽ ổn định với mức tăng 2,5% trong năm 2024 và 2,2% trong năm 2025, trong đó nhu cầu về chất bán dẫn tăng cao trên toàn cầu sẽ hỗ trợ tích cực cho xuất khẩu. Tại Australia, GDP sẽ tăng tốc từ mức tăng 1,1% trong năm nay lên 1,8% trong năm 2025, chi tiêu dùng sẽ tăng cao nhờ thu nhập khả dụng phục hồi mạnh.
Tại nhóm 20 nền kinh tế mới nổi hàng đầu, tình hình kinh tế về cơ bản vẫn ổn định, mặc dù tăng trưởng không đồng đều giữa các quốc gia. Tại Trung Quốc, kinh tế 6 tháng cuối năm 2024 sẽ tăng cao nhờ các gói cấp phát tiền để thúc đẩy chi tiêu dùng và mở rộng phát hành trái phiếu chính quyền địa phương trong thời gian gần đây, nhưng tiêu dùng vẫn yếu ớt do lĩnh vực bất động sản vẫn chưa thoát khỏi khó khăn, ảnh hưởng xấu đến triển vọng kinh tế. Vì thế, GDP được kỳ vọng tăng 4,9% trong năm 2024 và tăng 4,5% trong năm 2025. Trong 2 năm tới đây, nhu cầu trong nước sẽ tăng vững tại Ấn Độ và Indonesia. Tại Ấn Độ, GDP được kỳ vọng tăng 6,7% trong năm tài khóa 2024-2025 và tăng 6,8% trong năm tài khóa 2025-2026; trong khi GDP tại Indonesia được dự báo tăng 5,1% trong năm 2024 và tăng 5,2% trong năm 2025. Nhờ mở rộng chi tiêu tài khóa, động lực tăng trưởng cao trong 6 tháng đầu năm 2024 tại Brazil được kỳ vọng sẽ tiếp tục duy trì mặc dù tốc độ nới lỏng tiền tệ chậm chạp, GDP được dự báo sẽ tăng 2,9% trong năm 2024 và tăng 2,6% trong năm 2025. GDP tại Mexico được dự báo sẽ giảm tốc xuống mức tăng trưởng 1,4% trong năm 2024 và 1,2% trong năm 2025, do nhu cầu yếu ớt hiện nay sẽ kéo dài đến năm sau.
Tại nhóm quốc gia này, lạm phát được kỳ vọng sẽ giảm rõ rệt, nhờ giá cả hàng hóa và lạm phát giá dịch vụ giảm thấp đã góp phần giảm chi phí lao động. Lạm phát cơ bản được kỳ vọng sẽ giảm từ tỷ lệ 6,1% trong năm 2023 xuống 5,4% trong năm nay và 3,3% vào năm 2025. Lạm phát lõi được kỳ vọng sẽ giảm từ tỷ lệ 4,2% trong năm 2023 xuống 2,7% trong năm nay và 2,1% vào năm 2025.
Mặc dù đang giảm dần, nhưng lạm phát tại các nước mới nổi nhìn chung vẫn cao hơn so với tại AEs, với sự khác biệt đáng kể giữa các quốc gia. Lạm phát tại Argentina và Thổ Nhĩ Kỳ được kỳ vọng sẽ giảm trong năm 2024-2025, nhưng vẫn ở mức hai con số. Tại Trung Quốc, lạm phát tăng dần nhưng sẽ ở mức rất thấp.
Rủi ro và thách thức
Kinh tế toàn cầu bắt đầu cải thiện, với GDP ổn định hoặc tăng dần và lạm phát tiếp tục giảm. Tuy nhiên, rủi ro tăng trưởng thấp vẫn hiện hữu, phản ánh những bất ổn bắt nguồn từ xung đột vũ trang tại Ukraine và Trung Đông, tốc độ giảm lạm phát và tác động kéo dài của mặt bằng lãi suất cao. Nếu lạm phát giảm chậm hơn so với kỳ vọng, lạm phát kỳ vọng của các hộ gia đình và doanh nghiệp có thể sẽ tăng trở lại. Một rủi ro đáng lo ngại là, thị trường lao động nguội lạnh có thể sẽ đẩy tăng trưởng kinh tế tại nhiều nước giảm sâu hơn kỳ vọng. Các bên sẽ thỏa thuận lại mức lãi suất cho vay, nhiều khoản nợ sắp đáo hạn và được các hộ gia đình thay thế bằng những khoản vay mới. Tại AEs, khoảng 30% nợ doanh nghiệp sẽ đáo hạn vào năm 2026, tỷ lệ này tại các nước mới nổi còn cao hơn nhiều. Tại AEs, số lượng doanh nghiệp phá sản ngày càng tăng và đã vượt xa mức trước đại dịch.
Kinh tế có thể tăng cao hơn dự báo, nếu niềm tin của người tiêu dùng phục hồi bền vững, qua đó sẽ thúc đẩy chi tiêu tư nhân. Liên quan đến vấn đề này, yếu tố hỗ trợ về mặt tâm lý chính là mức độ phục hồi thu nhập thực tế và khả năng cải thiện sức mua của các hộ gia đình. Một yếu tố tích cực khác là giá dầu sẽ hạ nhiệt, nếu các nước không cắt giảm nguồn cung quá mức trong năm tới. Theo đó, lạm phát sẽ giảm rõ rệt tại nhiều nước, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại các nước nhập khẩu dầu và đẩy nhanh tiến độ nới lỏng chính sách tiền tệ.
Nguồn tham khảo: OECD tháng 9/2024
https://thitruongtaichinhtiente.vn/kinh-te-toan-cau-bat-dau-phuc-hoi-63344.html