Diễn biến giá gạo 2021: Một năm nhìn lại

Tiếp nối đà tăng giá từ cuối năm 2020, giá gạo nguyên liệu tiếp tục duy trì ở mức cao trong đầu năm 2021 do nguồn khan hiếm, thương lái chào bán giá cao. Cụ thể, gạo NL IR 504 nguồn ít, nhu cầu mua từ phía nhà kho làm hàng Cuba và gạo chợ. Trung bình tháng 1/2021, giá gạo NL IR 504 tại Sa Đéc giao dịch ở mức 10050 đồng/kg, tăng hơn 400 đồng/kg so với trung bình tháng 12/2020 và tăng 3500 đồng/kg so với cùng kỳ tháng 1/2020.

Giá gạo NL OM 5451 cũng tiếp tục ở mức cao do nguồn về ít, giá lúa tăng cao nên thương lái đẩy tăng giá chào bán gạo nguyên liệu. Trung bình tháng 1/2021, giá gạo NL OM 5451 giao dịch ở mức 10400 đồng/kg, tăng 580 đồng/kg so với tháng 12/2020 và tăng 3200 đồng/kg so với cùng kỳ tháng 1/2020.

Diễn biến giá gạo NL IR 504 tại kho Sa Đéc trong năm 2021 so với cùng kỳ năm 2020

Nguồn: Dữ liệu của Luagaoviet

Diễn biến giá gạo OM 5451 tại kho Sa Đéc trong năm 2021 so với cùng kỳ năm 2020

Nguồn: Dữ liệu của Luagaoviet

Gía gạo nguyên liệu tiếp tục duy trì ở mức cao trong đầu tháng 2/2021, Cụ thể, giá gạo NL IR 504/NL OM 5451 giao dịch quanh mức 10150-10250/10300-10500 đồng/kg, tại kho Sa Đéc, An Giang.

Tuy nhiên, gía gạo trắng điều chỉnh giảm khá mạnh sau đó do nguồn gạo nhiều, nhà kho giảm giá thu mua, thị trường lúa gạo giao dịch trầm lắng, đầu ra gạo trắng yếu.

Bước sang đầu tháng 3/2021, giá gạo trắng tiếp nối đà giảm do nhu cầu yếu trong khi nhiều tỉnh đang bước vào thu hoạch rộ vụ Đông Xuân. Giá gạo nguyên liệu các loại giảm mạnh do nguồn cung nhiều, các kho mua vào cầm chừng để trữ lại, đầu ra gạo trắng khó khăn. Giá gạo giảm mạnh khiến nhiều thương lái thua lỗ, bỏ cọc khi đặt cọc giá lúa cao trước đó.

Giá gạo NL IR 504/NL OM 5451 giảm xuống mức thấp nhất kể từ đầu năm 2021. Cụ thể, tại kho Sa Đéc, An Giang, giá gạo NL IR 504/NL OM 5451 giảm xuống mức lần lượt 9200-9300 đồng/kg và 9100-9200 đồng/kg, giảm mạnh từ 950-1200 đồng/kg so với thời điểm đầu năm 2021.

Giữa tháng 3/2021, giá gạo nguyên liệu các loại điều chỉnh tăng trở lại do nguồn ít hơn khi nhiều thương lái đã ngưng đi hàng do thua lỗ trước đó. Nhu cầu hỏi mua gạo NL IR 504 nhiều để làm hàng dự trữ nhà nước. Giao dịch lúa gạo cũng ở nên sôi động hơn trong thời kỳ rộ vụ Đông Xuân, các doanh nghiệp chuẩn bị hàng để giao các hợp đồng xuất khẩu đẩy giá các chủng loại gạo tiếp tục điều chỉnh tăng nhẹ. Giá gạo NL IR 504/NL OM 5451 tăng lên quanh mức 9600-9700 đồng/kg tại kho Sa Đéc, An Giang.

Trung bình tháng 3/2021, giá gạo NL IR 504/NL OM 5451 giao dịch quanh mức 9500 đồng/kg, tại kho Sa Đéc, giảm mạnh từ 600-800 đồng/kg so với tháng trước đó.

Diễn biến giá gạo NL IR 504 tại kho Sa Đéc, An Giang, Lấp Vò trong năm 2021

Nguồn: Dữ liệu của Luagaoviet

Cuối tháng 3, đầu tháng 4 năm 2021, miền Tây xuất hiện tình trạng thiếu ghe vận chuyển, thiếu xà lan và phương tiện vận chuyển gạo tới cảng xếp hàng. Giá gạo nguyên liệu và thành phẩm bắt đầu xu hướng giảm mạnh khi hàng hóa tồn lượng nhiều tại các kho, các nhà máy xay xát, nhà máy sấy khi thiếu phương tiện vận chuyển, các giao dịch bị trì trệ.

Tại kho Sa Đéc, giá gạo nguyên liệu điều chỉnh giảm xuống mức 8300-8400 đồng/kg đối với gạo NL IR 504 và xuống mức 8500-8600 đồng/kg đối với gạo NL OM 5451, mức giá thấp nhất kể từ hồi đầu năm 2021.

Tại kho An Giang, giá gạo NL IR 504 giảm mạnh xuống mức 8200-8300 đồng/kg. Giá gạo NL OM 5451 cũng giảm mạnh, nhiều ghe chất lượng xấu, gạo gãy, giao dịch vào kho xuất khẩu ở mức 8400-8500 đồng/kg, tại kho Sa Đéc, An Giang, giảm từ 700-900 đồng/kg so với trước đó.

Theo phía doanh nghiệp xuất khẩu, hợp đồng cũ còn phải giao đi Philippines còn không nhiều, tuy nhiên hiện các giao dịch ký mới với thương nhân Philippines khá chậm do thương nhân Philippinens đưa giá mua thấp.

Cuối tháng 4, nguồn cung lúa, gạo nguyên liệu các loại tại miền Tây dần hạn chế khi vào cuối vụ Đông Xuân và nguồn lúa từ Campuchia tiếp tục về chậm do bị siết chặt tại các cửa khẩu.

Đầu tháng 5, giá gạo nguyên liệu điều chỉnh tăng nhẹ, tiếp tục duy trì ở mức cao do nguồn gạo cuối vụ Đông Xuân dần hạn chế và nhu cầu thu mua nhiều từ phía kho gạo chợ để đóng cont trực tiếp gạo nguyên liệu mà không qua xay xát. Giá gạo NL IR 504/NL OM 5451 điều chỉnh tăng lên mức 9200-9300/9600-9700 đồng/kg tại kho Sa Đéc, An Giang.

Tuy nhiên, đến giữa tháng 5, giá gạo trắng có xu hướng giảm trở lại, nhu cầu gạo chợ có phần chậm lại hơn khi một số địa phương miền Trung đang có gạo mới thu hoạch. Thị trường lúa gạo giao dịch tiếp tục chậm, nhu cầu mua gạo nguyên liệu vụ mới yếu do chất lượng kém, các doanh nghiệp vẫn còn tồn kho gạo cũ nhiều. Thêm vào đó, các thông tin liên quan tới dịch Covid19 cũng gây trở ngại cho các giao dịch gạo xuất nhập khẩu tại miền Tây.

Trung bình tháng 5/2021, giá gạo NL IR 504/NL OM 5451 tại Sa Đéc ở mức 9070/9400 đồng/kg, tăng nhẹ 400-500 đồng/kg so với tháng trước.

Giá gạo nguyên liệu các loại tiếp tục có xu hướng giảm trong tháng 6 do nhu cầu thu mua từ phía các kho cung ứng và xuất khẩu yếu, chất lượng gạo Hè Thu xấu. Thị trường lúa gạo giao dịch chậm khi đầu ra cho gạo trắng sau xay xát yếu cả kênh xuất khẩu và tiêu thụ nội địa. Doanh nghiệp xuất khẩu chỉ giao hàng lai rai đi Philippines và châu Phi. Giao dịch mới với thương nhân Philippines yếu.

Trung bình tháng 6, giá gạo NL IR 504/NL OM 5451 ở mức 7850/8800 đồng/kg, giảm lần lượt 1200 đồng/kg và 650 đồng/kg so với trung bình tháng trước.

Theo thương nhân, thời điểm này các biện pháp phòng chống dịch tại một số tỉnh miền Tây gây ảnh hưởng chung đến tình hình giao dịch lúa gạo và cám gạo, một số nhà máy xay xát ngưng hoạt động.

Bước sang tháng 7, thị trường tiếp tục giao dịch ảm đạm, giao dịch lúa gạo trì trệ khi dịch bệnh diễn biến phức tạp, thiếu công nhân bốc xếp, việc vận chuyển khó khăn, chỉ một số kho gạo chợ và vài kho cung ứng thu mua lai rai. Các kho, nhà máy hoạt động chậm, áp dụng sản xuất “3 tại chỗ” (ăn uống, làm việc và nghỉ ngơi tại chỗ).

Cuối tháng 7, giá gạo NL IR 504/NL OM 5451 chỉ còn ở mức 7000-7100/8200-8400 đồng/kg, tại kho Sa Đéc, An Giang.

Thị trường lúa gạo tại miền Tây trong tháng 8 tiếp tục ngưng trệ do các nguyên nhân như: Các ghe khó khăn trong việc đi lấy lúa, các phương tiện gặp khó khăn trong việc xét nghiệm, kiểm dịch; Tổ chức “3 tại chỗ” chi phí cao, nhiều kho không đủ điều kiện tổ chức “3 tại chỗ”; Nhiều nhà máy xay xát buộc phải đóng cửa; Tình trạng thiếu nhân công. Nguồn cung lúa từ Campuchia vẫn đang có khá dồi dào.

Giá gạo nguyên liệu IR 504, OM 5451 tiếp tục có xu hướng giảm do nhu cầu yếu, giá thành gạo trắng cao khi giá phụ phẩm tấm, cám giảm mạnh.

Trung bình tháng 8/2021, giá gạo NL IR 504/NL OM 5451 ở mức 7200/7750 đồng/kg, tại kho Sa Đéc, giảm lần lượt 1700/1250 đồng/kg so với cùng kỳ năm 2020.  Đây là thời điểm giá gạo nguyên liệu ở mức thấp nhất trong năm 2021.

Tại miền Tây, nguồn cung lúa, gạo nguyên liệu OM 5451, OM 18 và Đài Thơm 8 thời điểm này nhìn chung khá dồi dào, thêm vào đó nguồn lúa từ Campuchia được đưa về nhiều qua cửa khẩu Tịnh Biên (ước tính khoảng 10 nghìn tấn mỗi ngày). Tuy nhiên nhiều nhà máy xay xát lại ngưng hoạt động do không đáp ứng ”3 tại chỗ”, một số nhà máy có công nhân bị nhiễm dịch cũng phải tạm ngưng khiến thị trường lúa gạo tiếp tục giao dịch ảm đạm.

Bước sang tháng 9, sau các thông tin về việc các biện pháp giãn cách có thể nới lỏng tại một số địa phương miền Tây thì tình hình giao thương cũng chưa thật sự có nhiều thuận lợi hơn. Các doanh nghiệp xuất khẩu gạo tồn hàng nhiều và chưa thể giải phóng khi thiếu phương tiện vận chuyển, thiếu tàu và cont để đóng hàng xuất khẩu.

Trong khi đó thì nhu cầu gạo nội địa cũng chậm, cùng với đó là gạo cứu trợ từ các kho dự trữ được đưa ra làm suy giảm nhu cầu tiêu thụ gạo trên thị trường.

Nửa đầu tháng 9, giá gạo NL IR 504 tiếp tục duy trì quanh mức 7400-7500 đồng/kg, tại kho Sa Đéc và ở mức 7600-7700 đồng/kg tại kho An Giang. Giá gạo NL OM 5451 điều chỉnh giảm nhẹ xuống mức 7600-7700 đồng/kg tại kho Sa Đéc và ở mức 8000-8100 đồng/kg tại kho An Giang.

Cuối tháng 9, thị trường lúa gạo giao dịch có phần khởi sắc hơn khi các nhà máy cải thiện sản xuất hơn để giao Cục dự trữ nhà nước, cùng với đó nhu cầu tiêu thụ gạo nội địa cũng có phần gia tăng, nguồn gạo tại miền Bắc dần cạn khi sắp bước vào thu hoạch. Giá gạo NL IR 504 nhích nhẹ lên mức 7800-8000 đồng/kg, tại kho Sa Đéc, An Giang, Lấp Vò. Giá gạo NL OM 5451 cũng điều chỉnh tăng lên mức 8100-8200 đồng/kg, tại kho Sa Đéc, An Giang.

Ước tính đến cuối tháng 9, miền Tây đã thu hoạch gần như hoàn tất vụ Hè Thu và có một số đồng có lúa thu hoạch đầu vụ Thu Đông như tại Đồng Tháp, Cần Thơ, Hậu Giang.

Tháng 10, giá gạo nguyên liệu điều chỉnh tăng trở lại do nguồn cung vụ Thu Đông ít, nhu cầu từ gạo chợ tại Cái Bè cùng với nhiều kho xuất khẩu có hỏi mua lại. Tại An Giang, Lấp Vò, giá có xu hướng tăng nhẹ do nguồn ít, nhà kho mua làm hàng dự trữ nhà nước.

Trung bình tháng 10, giá gạo NL IR 504/NL OM 5451 điều chỉnh tăng so với tháng trước, lên mức lần lượt 8240/8800 đồng/kg, tại kho Sa Đéc.

Theo phía doanh nghiệp xuất khẩu, giao dịch mới với thương nhân Philippines yếu khi thương nhân Philippines đưa giá thấp, trong khi đó phía doanh nghiệp xuất khẩu thận trọng trong giao dịch do lo ngại nguồn cung gạo hạn chế. Giá cước vận chuyển cao cũng ảnh hưởng tới các giao dịch. Phía doanh nghiệp xuất khẩu ưu tiên đặt hàng gạo đẹp và ở những khu vực thuận tiện vận chuyển như Sa Đéc, Cái Bè.

Thị trường lúa gạo tại miền Tây tiếp tục trầm lắng trong tháng 11/2021. Giao dịch xuất khẩu mới (gạo) đi Philippines ảm đạm khi thương nhân Philippines đưa giá mua thấp hơn so với giá thành sản xuất. Trong khi đó nguồn cung lúa gạo vụ Thu Đông hạn chế, Nguồn lúa từ Campuchia về chậm, giá cao khiến thương lái thua lỗ. Thêm vào đó, nhu cầu hỏi mua gạo nội địa từ thương nhân miền Bắc yếu.

Nửa đầu tháng 11, giá gạo NL IR 504 ổn định quanh mức 8200-8400 đồng/kg, tại kho Sa Đéc, An Giang, Lấp Vò. Giá gạo NL OM 5451 tại Sa Đéc cũng ổn định quanh mức 8800-9000 đồng/kg. Tại An Giang, Lấp Vò, giá gạo NL OM 5451 giao dịch quanh mức 9000-9100 đồng/kg trong nửa đầu tháng 11.

Gía gạo nguyên liệu bắt đầu xu hướng giảm trong nửa cuối tháng 11/2021 do tình hình dịch bệnh bùng phát mạnh trở lại tại một số địa phương miền Tây làm cho thị trường lúa gạo giao dịch ảm đạm hơn. Thông tin Philippines ngưng cấp giấy phép nhập khẩu cũng đang khiến các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam lo ngại về đầu ra (gạo) trong thời gian tới sẽ có phần chậm lại. Nhu cầu gạo nội địa từ thương nhân miền Bắc tiếp tục yếu.

Cuối tháng 11, giá gạo NL IR 504/NL OM 5451 giảm xuống mức 7700-7800/8200-8300 đồng/kg, tại kho Sa Đéc, An Giang, Lấp Vò. Trung bình tháng 11/2021, giá gạo NL IR 504/NL OM 5451 ở mức 8160/8790 đồng/kg, giảm nhẹ so với giá trung bình tháng 10/2021.

Gía gạo nguyên liệu và thành phẩm tiếp tục xu hướng giảm trong tháng 12/2021 do nhu cầu thu mua từ các kho cung ứng tiếp tục yếu do đầu ra khó khăn, nhiều kho ngưng mua hoặc chỉ cung ứng hàng cho gạo chợ. Nguồn gạo đầu vụ Đông Xuân ít và giá cao. Thêm vào đó, nhiều nhà máy xay xát bắt đầu nghỉ lễ Tết dương lịch sớm khi đầu ra gạo trắng rất yếu.

Trung bình tháng 12/2021, giá gạo NL IR 504/NL OM 5451 tại kho Sa Đéc ở mức 7662/8124 đồng/kg, giảm từ 500-600 đồng/kg so với tháng trước và giảm từ 1400-1900 đồng/kg so với tháng 12/2020.

Trung bình giá gạo nguyên liệu tại kho Sa Đéc năm 2021 so với cùng kỳ 2020 (đồng/kg)

Tháng

NL IR 504

Tăng/giảm

NL OM 5451

Tăng/giảm

NL Đài Thơm 8

Tăng/giảm

2020

2021

2020

2021

2020

2021

1

6488

10051

3564

7200

10415

3215

7584

10643

3058

2

6788

10200

3413

7381

10328

2946

7577

10508

2930

3

7519

9542

2023

7999

9534

1536

8260

9728

1468

4

8124

8685

562

8583

8878

295

8859

9443

584

5

8284

9073

789

8581

9432

850

8878

9845

968

6

7923

7852

-71

7990

8774

784

8214

9295

1082

7

7969

7368

-601

8001

8610

609

8536

9540

1004

8

8949

7213

-1736

9004

7751

-1253

9339

8680

-660

9

8834

7630

-1204

8619

7910

-709

8996

8561

-435

10

9054

8240

-814

9014

8800

-214

9211

8908

-304

11

9469

8164

-1305

9563

8791

-771

9788

9295

-493

12

9624

7662

-1962

9831

8124

-1707

10157

8744

-1413

Nguồn: Dữ liệu của Luagaoviet

Trung bình giá gạo thành phẩm tại kho Sa Đéc năm 2021 so với cùng kỳ 2020 (đồng/kg)

Tháng

TP 504

Tăng/giảm

TP 5451

Tăng/giảm

TP Đài Thơm 8

Tăng/giảm

2020

2021

2020

2021

2020

2021

1

7489

11365

3876

8528

11733

3204

8834

12053

3218

2

7741

11437

3696

8444

11600

3156

8740

11748

3008

3

8792

10921

2129

9459

10798

1338

9696

11005

1310

4

9811

10253

442

10343

10453

109

10624

10905

281

5

10010

10471

461

10245

10870

625

10593

11243

650

6

9417

8875

-542

9455

9973

518

9991

10707

716

7

9318

8327

-991

9393

9777

384

10263

11008

745

8

10589

8200

-2389

10614

9007

-1607

11126

10495

-631

9

10230

8748

-1482

9950

9350

-600

10619

10018

-602

10

10385

9240

-1145

10197

10035

-162

10725

10519

-206

11

10881

9030

-1851

10943

10023

-920

11360

10492

-867

12

10952

8439

-2513

11189

9236

-1953

11673

10059

-1614

Nguồn: Dữ liệu của Luagaoviet

 

Trò chuyện với chúng tôi